Cách tính giá xuất kho: ví dụ bình quân gia quyền và FIFO


Cách tính giá xuất kho là lấy số lượng xuất nhân với đơn giá được xác định theo phương pháp doanh nghiệp áp dụng. Với bình quân gia quyền, bạn tính giá trung bình có trọng số; với nhập trước xuất trước, bạn lần lượt dùng giá của những lô nhập sớm còn tồn.
Nếu muốn trao đổi việc học phần kế toán kho từ nền tảng hiện có, bạn có thể Chat Zalo 0904 860 899 và nói rõ bước mình đang vướng.
Trị giá hàng xuất kho được tính từ lượng hàng thực xuất và đơn giá xuất kho của mặt hàng đó. Đơn giá này phụ thuộc phương pháp tính giá đang áp dụng, không phải giá bán ghi trên hóa đơn cho khách.
Công thức chung: trị giá xuất kho = số lượng xuất × đơn giá xuất kho. Nếu một phiếu FIFO dùng hàng của nhiều lô, bạn tính riêng từng phần rồi cộng lại. Cần phân biệt hai kết quả: đơn giá có đơn vị đồng/chiếc, còn trị giá của cả phiếu là đồng.
Giá nhập dùng làm đầu vào cũng cần kiểm tra. Với hàng mua, bạn xét giá mua sau các khoản giảm trừ và chi phí thu mua đủ điều kiện tính vào giá gốc. Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ không cộng vào giá gốc; khoản không được khấu trừ cần xét theo trường hợp cụ thể.
Ví dụ, hàng mua giá 40.000 đồng/chiếc chưa bao gồm thuế GTGT được khấu trừ thì không lấy tổng tiền thanh toán có thuế làm đơn giá nhập. Nếu phát sinh vận chuyển tính vào giá gốc, cần phân bổ khoản đó trước khi chốt giá xuất.
Bài hướng dẫn tập trung vào bình quân gia quyền và nhập trước xuất trước (FIFO). Đây là hai nhóm cần luyện trong bài tập này, không phải danh sách đầy đủ các phương pháp cho mọi loại hàng. Khi áp dụng thực tế, bạn kiểm tra chính sách kế toán của doanh nghiệp và văn bản tương ứng.
Bạn cần số lượng và giá trị tồn đầu kỳ, từng lần nhập, từng lần xuất theo đúng thứ tự phát sinh. Thiếu giá trị tồn đầu thì dù có đủ phiếu nhập mới, đơn giá bình quân vẫn có thể sai.
Dùng ví dụ giả định sau cho mã HH-A, đơn vị chiếc, trong một tháng thực hành. Các đơn giá nhập đã là giá gốc sau xử lý chi phí liên quan. Giả sử không có trả hàng, giảm giá, hao hụt hoặc điều chuyển; mọi lần xuất trong bài là xuất hàng bán.
| Thời điểm | Nghiệp vụ và lượng | Đơn giá nhập (đồng/chiếc) |
|---|---|---|
| Đầu tháng | Tồn 120 chiếc | 40.000 |
| Ngày 03 | Nhập 80 chiếc | 46.000 |
| Ngày 08 | Xuất 150 chiếc | Chờ tính |
| Ngày 15 | Nhập 100 chiếc | 49.600 |
| Ngày 20 | Xuất 90 chiếc | Chờ tính |
Tồn đầu có trị giá 120 × 40.000 = 4.800.000 đồng. Hai lần nhập có trị giá lần lượt 3.680.000 đồng và 4.960.000 đồng. Tổng hàng có thể xuất là 300 chiếc, trị giá 13.440.000 đồng; lượng xuất cả tháng là 240 chiếc.
Trước khi bấm máy tính, đối chiếu mã hàng trên phiếu với danh mục và thống nhất đơn vị tính. Một thùng có nhiều chiếc phải được quy đổi đúng. Nếu cùng ngày có cả nhập và xuất, cần xác định thứ tự chứng từ thực tế, nhất là khi tính bình quân sau mỗi lần nhập.
Tính giá xuất kho bình quân gia quyền cuối kỳ nghĩa là xác định một đơn giá chung cho từng mặt hàng từ tổng giá trị và tổng lượng hàng có trong kỳ. Sau đó dùng đơn giá ấy cho lượng xuất của kỳ tương ứng.
Đơn giá bình quân cuối kỳ = (giá trị tồn đầu kỳ + giá trị nhập trong kỳ) / (số lượng tồn đầu kỳ + số lượng nhập trong kỳ). Ngoặc ở tử số và mẫu số cần giữ đầy đủ. Không lấy trung bình cộng các đơn giá mua.
Thay số: (4.800.000 + 3.680.000 + 4.960.000) / (120 + 80 + 100) = 44.800 đồng/chiếc. Mỗi chiếc thuộc lượng xuất trong tháng được tính theo đơn giá bình quân này, dù phiếu xuất nằm trước hay sau lần nhập thứ hai.
Phiếu ngày 08: 150 × 44.800 = 6.720.000 đồng. Phiếu ngày 20: 90 × 44.800 = 4.032.000 đồng. Cộng hai phiếu được tổng trị giá xuất 10.752.000 đồng.
Lượng tồn cuối kỳ là 300 − 240 = 60 chiếc. Trị giá còn lại: 60 × 44.800 = 2.688.000 đồng. Kiểm ngược bằng 13.440.000 − 10.752.000 cũng cho cùng kết quả.
Cách này thuận tiện khi chốt giá theo kỳ, nhưng giá vốn chính thức phụ thuộc việc hoàn tất dữ liệu nhập. Một khoản chi phí thu mua được bổ sung hợp lệ vào giá nhập có thể làm đơn giá cuối kỳ thay đổi. Khi đó, bạn cần tính lại các phiếu xuất bị ảnh hưởng, thay vì chỉ điều chỉnh phiếu cuối.
Bình quân sau mỗi lần nhập dùng lượng và giá trị hàng đang còn ngay trước lần nhập, cộng lô vừa nhập để xác định đơn giá mới. Các lần xuất kế tiếp dùng đơn giá đó cho đến khi có một lần nhập làm thay đổi bình quân.
Công thức: đơn giá mới = (giá trị tồn trước nhập + giá trị lô nhập) / (lượng tồn trước nhập + lượng lô nhập). Từ khóa cần nhớ là tồn trước nhập. Phần đã xuất không còn nằm trong lượng dùng tính bình quân lần tiếp theo.
Kho có 120 + 80 = 200 chiếc sau nhập ngày 03, trị giá 4.800.000 + 3.680.000 = 8.480.000 đồng. Đơn giá bình quân là 8.480.000 / 200 = 42.400 đồng/chiếc.
Xuất 150 chiếc ngày 08: 150 × 42.400 = 6.360.000 đồng. Kho còn 50 chiếc, trị giá 8.480.000 − 6.360.000 = 2.120.000 đồng. Đây là số chuyển sang lần nhập sau.
Ngày 15, nhập thêm 100 chiếc trị giá 4.960.000 đồng. Tổng lượng mới là 50 + 100 = 150 chiếc; tổng trị giá là 2.120.000 + 4.960.000 = 7.080.000 đồng. Chia ra được đơn giá 47.200 đồng/chiếc.
Phiếu ngày 20 có trị giá 90 × 47.200 = 4.248.000 đồng. Sau xuất còn 60 chiếc, trị giá 2.832.000 đồng. Tổng xuất trong tháng theo bình quân liên hoàn là 6.360.000 + 4.248.000 = 10.608.000 đồng.
Số này khác bình quân cuối kỳ vì phiếu ngày 08 chưa dùng thông tin lô nhập ngày 15. Sự khác biệt xuất phát từ thời điểm xác định giá, không có nghĩa một trong hai phép tính sai.
Tính giá xuất kho nhập trước xuất trước là phân bổ lượng xuất vào các lô nhập sớm còn tồn, hết lô cũ mới chuyển sang lô kế tiếp. Bạn phải giữ được lượng còn lại và đơn giá của mỗi lô.
Ở phiếu ngày 08, lượng cần xuất là 150 chiếc. Lấy hết 120 chiếc tồn đầu giá 40.000, rồi lấy thêm 30 chiếc từ lô ngày 03 giá 46.000. Trị giá phiếu: 120 × 40.000 + 30 × 46.000 = 6.180.000 đồng.
Sau phiếu này, lô ngày 03 còn 80 − 30 = 50 chiếc, trị giá 2.300.000 đồng. Lô tồn đầu đã hết. Khi nhập ngày 15, ghi thêm một lô 100 chiếc giá 49.600, giữ riêng với 50 chiếc cũ.
Đến ngày 20, phiếu xuất cần 90 chiếc. Xuất hết 50 chiếc giá 46.000, sau đó xuất 40 chiếc giá 49.600. Kết quả: 50 × 46.000 + 40 × 49.600 = 4.284.000 đồng. Tồn cuối là 60 chiếc của lô ngày 15, trị giá 2.976.000 đồng.
Tổng xuất theo FIFO bằng 6.180.000 + 4.284.000 = 10.464.000 đồng. Nếu chỉ lấy 90 nhân giá của lô nhập gần nhất, bạn đã bỏ qua phần hàng cũ chưa dùng hết.
FIFO trong tính giá là giả định về luân chuyển giá trị. Việc thủ kho ưu tiên hàng hết hạn trước, thường gọi là FEFO, phục vụ quản lý hàng vật lý. Hai việc cần phối hợp nhưng không tự động đồng nhất; đừng suy ra giá xuất chỉ từ vị trí hàng trên kệ.
Cùng một bộ phiếu có thể cho trị giá xuất khác nhau khi dùng cách tính khác nhau, nhưng tổng xuất cộng tồn vẫn phải bằng tổng giá trị hàng có thể sử dụng. Trong ví dụ này, tổng đó luôn là 13.440.000 đồng.
| Cách tính | Tổng xuất (đồng) | Tồn cuối (đồng) |
|---|---|---|
| Bình quân cuối kỳ | 10.752.000 | 2.688.000 |
| Bình quân sau mỗi lần nhập | 10.608.000 | 2.832.000 |
| FIFO | 10.464.000 | 2.976.000 |
Phép kiểm tra lượng: 120 + 80 + 100 = 150 + 90 + 60. Phép kiểm tra tiền: tồn đầu + nhập = xuất + tồn cuối. Trong tình huống có trả hàng hoặc điều chỉnh, bạn phải đưa thêm các biến động đó vào hai vế phù hợp.
Vì giá nhập trong ví dụ tăng dần, FIFO phân bổ giá cũ thấp hơn vào lượng xuất và để lại giá mới cao hơn trong tồn. Tổng giá vốn FIFO thấp hơn bình quân cuối kỳ 288.000 đồng. Nếu doanh thu và các yếu tố khác giữ nguyên, lợi nhuận gộp sẽ khác tương ứng; chưa thể suy thẳng ra số thuế phải nộp.
Đừng chọn phương pháp chỉ vì muốn có con số lợi nhuận mong muốn. Bạn cần theo chính sách doanh nghiệp đang áp dụng. Khi kiểm tra bài tập, việc đầu tiên là đọc đúng yêu cầu “cuối kỳ”, “sau mỗi lần nhập” hay “FIFO”, rồi mới so đáp án.
Nếu chưa rõ vì sao cùng lượng xuất lại ra ba kết quả trên, bạn có thể Chat Zalo 0904 860 899 để trao đổi nhu cầu học cách đọc và đối chiếu bảng kho.
Bảng Excel cần tách lượng với tiền và giữ được số tồn sau từng dòng chứng từ. Để dễ kiểm, hãy bắt đầu bằng một mã hàng tại một kho, sau đó mới mở rộng sang nhiều mã.
Giả sử dòng 2 là tồn đầu và dòng 3 là lần nhập đầu tiên. Bạn có thể bố trí các cột như dưới đây; những ô không phát sinh nhập hoặc xuất ghi số 0. Cột đơn giá không dùng chung cho cả giá nhập và giá xuất.
| Cột | Nội dung | Cách dùng |
|---|---|---|
| A–C | Ngày, số phiếu, mã hàng | Nhận diện chứng từ |
| D–F | Lượng nhập, giá nhập, tiền nhập | F3 = D3*E3 |
| G–I | Lượng xuất, giá xuất, tiền xuất | I3 = G3*H3 |
| J–L | Lượng tồn, tiền tồn, giá bình quân | Theo dõi sau mỗi dòng |
Với bình quân liên hoàn, J3 = J2+D3-G3 và K3 = K2+F3-I3. Ở dòng nhập thuần túy, G3 bằng 0, H3 có thể để 0; đơn giá mới L3 = K3/J3 khi J3 lớn hơn 0. Ở dòng xuất thuần túy, D3 bằng 0 và H3 lấy đơn giá L2 của dòng trước.
Cần xử lý riêng khi lượng tồn bằng 0. Không chia cho 0, cũng không giấu lượng tồn âm bằng công thức trả về số 0. Nếu J3 âm, dừng để rà chứng từ. Một dòng chỉ nên thể hiện một nghiệp vụ nhập hoặc xuất để tránh vòng tham chiếu.
Để tính bình quân cuối kỳ, đặt đơn giá ở vùng tổng hợp riêng rồi tham chiếu vào cột H. Với FIFO, tạo thêm bảng theo dõi từng lô và lượng phân bổ cho mỗi phiếu. SUMIFS có thể giúp tổng hợp lượng theo mã nhưng không tự thay thế bước phân bổ lô FIFO.
Sau khi tính được trị giá xuất, bạn dùng kết quả để ghi nhận nghiệp vụ phù hợp và đối chiếu sổ. Không phải mọi lần xuất hàng khỏi kho đều được đưa thẳng vào giá vốn hàng bán.
Ví dụ đang xét là hàng hóa xuất bán đã đủ điều kiện ghi nhận giá vốn, doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo kê khai thường xuyên và áp dụng Thông tư 99/2025/TT-BTC. Nếu dùng FIFO, phiếu ngày 08 có bút toán: Nợ TK 632 / Có TK 156, số tiền 6.180.000 đồng ở mỗi bên.
Bút toán đó phản ánh giá vốn, còn doanh thu và thuế đầu ra được xử lý riêng theo hồ sơ bán hàng. Xuất nguyên vật liệu cho sản xuất, gửi hàng đi bán hoặc điều chuyển giữa kho là những tình huống có cách ghi nhận khác. Bạn phải đọc mục đích xuất trên chứng từ trước khi chọn tài khoản.
Khi kiểm sổ, bắt đầu từ số phiếu và mã hàng, cộng trị giá các phiếu xuất bán rồi đối chiếu phát sinh giá vốn tương ứng. Số dư hàng hóa cần khớp sổ chi tiết sau khi đã xét các chi phí thu mua và điều chỉnh có liên quan, không chỉ nhìn một cột tổng trên báo cáo kho.
Lượng thực tế cũng cần đối chiếu thẻ kho và kiểm kê. Bảng tính tự cân đối hai vế chưa chứng minh kho còn đúng hàng. Một phiếu nhập bị ghi trùng có thể làm cả lượng tồn lẫn giá vốn sai, dù công thức Excel vẫn chạy bình thường.
Giá xuất thường lệch do sai dữ liệu gốc, chọn nhầm cách tính hoặc dùng công thức không đúng phạm vi. Hãy khoanh vùng nguyên nhân trước khi sửa con số thành tiền.
Lỗi dễ thấy là cộng đơn giá rồi chia cho số lần có giá. Với HH-A, phép tính (40.000 + 46.000 + 49.600) / 3 ra 45.200 đồng/chiếc. Kết quả khác 44.800 vì ba lượng hàng không bằng nhau. Bình quân gia quyền phải dùng lượng làm trọng số.
Trộn mã hàng hoặc đơn vị tính cũng gây lệch. Hai mặt hàng cùng tên gọi ngắn chưa chắc cùng mã; một phiếu dùng thùng và phiếu khác dùng chiếc phải được quy đổi trước. Cần kiểm cả mã kho nếu hệ thống tính giá theo từng kho.
Khi phát hiện hàng âm tại thời điểm xuất, kiểm ngày nhập, thời điểm ghi nhận và lượng tồn đầu. Đừng chuyển ngày chứng từ chỉ để phần mềm cho ra giá đẹp. Nếu hàng đã thực nhận nhưng thiếu chứng từ, cần xử lý theo hồ sơ và quy trình kế toán của đơn vị.
Làm tròn đơn giá quá sớm có thể tạo chênh lệch khi nhân lượng lớn. Nên giữ độ chính xác đủ dùng ở bước trung gian, làm tròn thành tiền theo quy tắc nhất quán rồi đối chiếu chênh. Ví dụ HH-A được thiết kế cho đơn giá chia hết để bạn tập trung vào phương pháp.
Cuối cùng, đừng sửa tay từng phiếu mà chưa lưu nguyên nhân. Khi lỗi nằm ở giá nhập, chỉnh dữ liệu nguồn hợp lệ và tính lại chuỗi ảnh hưởng sẽ giúp kết quả có thể kiểm tra lại.
Chứng từ bổ sung có thể làm thay đổi giá nhập, đơn giá bình quân hoặc phần giá đã phân bổ cho phiếu xuất. Bạn cần xác định chứng từ tác động đến lô nào và kỳ nào trước khi tính lại.
Chẳng hạn, nếu sau khi xuất ngày 20 mới phát hiện chi phí hợp lệ của lô ngày 03 chưa được đưa vào giá gốc, phải rà cả phần hàng đã xuất lẫn còn tồn. Với bình quân cuối kỳ, đơn giá của kỳ có thể thay đổi; với bình quân liên hoàn, ảnh hưởng đi từ mốc liên quan qua các lần nhập xuất tiếp theo.
Trả hàng mua và nhận hàng bán bị trả lại cũng cần gắn chứng từ gốc. Hàng khách trả về không được tự nhập lại theo giá bán cho khách để làm giá vốn. Trước hết phải xác định hàng thuộc giao dịch nào, lượng trả và giá trị đã ghi nhận, rồi xử lý theo phương pháp và chế độ đang áp dụng.
Trong kỳ còn mở, bạn đối chiếu bản trước và sau khi xử lý, lưu lý do điều chỉnh cùng bảng tính lại. Với kỳ đã khóa hoặc báo cáo đã lập, cần trao đổi người phụ trách kế toán để xác định cách điều chỉnh phù hợp. Không tự mở kỳ và sửa âm thầm.
Khi dùng phần mềm, chỉ so kết quả sau khi thống nhất phạm vi tính giá, phương pháp, khoảng thời gian và các chứng từ đã ghi sổ. Nếu Excel và phần mềm dùng đầu vào khác nhau, việc đổi công thức nhiều lần vẫn không giải quyết được chênh lệch.
Bạn có thể tự kiểm mức hiểu bài bằng một ví dụ giả định ngắn, tính theo bình quân và FIFO rồi đối chiếu tổng. Hãy thử tính trước khi đọc phần đáp án bên dưới.
Mã HH-B tồn đầu 30 chiếc, đơn giá 70.000 đồng/chiếc. Nhập thêm 20 chiếc, đơn giá 85.000 đồng/chiếc. Sau lần nhập này, xuất bán 35 chiếc; không còn biến động nào khác. Các giá đã là giá gốc, không có chi phí bổ sung.
Đáp án bình quân: tổng tiền là 30 × 70.000 + 20 × 85.000 = 3.800.000 đồng. Chia cho 50 chiếc, được 76.000 đồng/chiếc. Trị giá xuất là 35 × 76.000 = 2.660.000 đồng; tồn 15 chiếc trị giá 1.140.000 đồng.
Đáp án FIFO: lấy hết 30 chiếc giá 70.000 và thêm 5 chiếc giá 85.000. Trị giá xuất bằng 2.100.000 + 425.000 = 2.525.000 đồng. Còn 15 chiếc của lô nhập mới, trị giá 1.275.000 đồng.
Hai đáp án đều có lượng tồn 15 chiếc và tổng xuất cộng tồn bằng 3.800.000 đồng. Trong bài này, bình quân cuối kỳ và bình quân sau lần nhập cho cùng kết quả vì chỉ có một lần nhập trước lần xuất duy nhất. Sự trùng nhau không có nghĩa hai cách luôn giống nhau.
Kết quả chưa khớp thì kiểm lần lượt tổng lượng, tổng tiền, đơn giá rồi mới đến trị giá phiếu xuất. Cách dò này giúp bạn tìm đúng bước sai thay vì tính lại từ đầu mà không biết mình vừa sửa gì.
Phương pháp tính giá cần phù hợp đặc điểm hàng, yêu cầu quản lý và khả năng theo dõi dữ liệu của doanh nghiệp. Bạn nên nắm chính sách đang áp dụng và thực hiện nhất quán; việc thay đổi cần có căn cứ và xử lý theo quy định tương ứng.
Bình quân cuối kỳ thuận tiện khi tập trung chốt giá vào cuối kỳ. Bình quân liên hoàn cần cập nhật kịp thời từng lần nhập để có giá cho lần xuất sau. FIFO đòi hỏi theo dõi lượng còn lại từng lô; nếu mất dấu lô cũ, rất dễ phân bổ thiếu hoặc trùng.
Với người mới, hãy luyện theo thứ tự: đọc phiếu nhập và phiếu xuất, tính tay một mã, dựng lại trên Excel, cuối cùng đối chiếu với báo cáo phần mềm. Ở mỗi bước, tự giải thích được vì sao lượng tồn và giá trị tồn thay đổi. Chạy được công thức là bước đầu; kiểm được đầu vào mới giúp bạn xử lý tình huống khác.
Tại Khóa Học Kế Toán Thực Hành Thực Tế, bạn có thể tìm hiểu việc học kế toán trên chứng từ thực tế, Excel và MISA. Hình thức học trực tiếp tại 193 Nguyễn Xí, phường Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh hoặc online phù hợp để trao đổi nhu cầu luyện thêm phần hành đang thiếu.
Kết quả học tùy nền tảng và thời gian thực hành của mỗi người. Trước khi chọn nội dung học, bạn nên xác định mình đang thiếu cách đọc chứng từ, phép tính giá hay bước đối chiếu sổ, để việc luyện tập có mục tiêu rõ ràng.
Để trao đổi lộ trình học từ phần kế toán kho đến đối chiếu sổ, bạn có thể Gọi 0904 860 899 và cho biết kinh nghiệm hiện tại cùng hình thức học thuận tiện.
Thực hành theo một tình huống cụ thể, tự kiểm tra kết quả và ghi lại những điểm cần làm rõ.
Gợi ý thực hành


Đọc chứng từ, giải thích cách xử lý và đối chiếu số liệu là các bước cần đi cùng nhau. Bạn có thể trao đổi nền tảng và mục tiêu để chọn lộ trình thực hành phù hợp.