Cách tính khấu hao tài sản cố định theo đường thẳng: ví dụ thực hành


Cách tính khấu hao tài sản cố định theo đường thẳng là lấy nguyên giá chia thời gian trích khấu hao để ra mức năm, rồi chia 12 để ra mức tháng. Nếu tài sản tăng hoặc giảm giữa tháng, bạn cần tính theo số ngày được trích trong tháng đó.
Bạn muốn học cách lập bảng khấu hao từ chứng từ có thể Chat Zalo để trao đổi phần đang vướng và nền tảng hiện tại.
Khấu hao đường thẳng phân bổ nguyên giá thành các mức khấu hao bình quân bằng nhau khi nguyên giá và thời gian trích không đổi. Bạn cần tính mức năm trước, sau đó xác định phần được trích trong kỳ thực tế.
Mức khấu hao bình quân năm = Nguyên giá tài sản cố định / Thời gian trích khấu hao tính bằng năm.
Mức khấu hao bình quân tháng = Mức khấu hao bình quân năm / 12. Cũng có thể lấy nguyên giá chia tổng số tháng trích khấu hao; hai cách cho cùng kết quả.
Căn cứ phép tính là Phụ lục 2 của Thông tư 45/2013/TT-BTC. Khi áp dụng cho hồ sơ doanh nghiệp, cần đọc cùng các văn bản sửa đổi, bổ sung liên quan, trong đó có Thông tư 30/2025/TT-BTC.
Ví dụ giả định, một thiết bị có nguyên giá 360 triệu đồng, thời gian trích phù hợp là 6 năm. Mức bình quân năm bằng 360 / 6 = 60 triệu đồng; mức bình quân tháng bằng 60 / 12 = 5 triệu đồng.
Con số 60 triệu chỉ tương ứng một năm đủ kỳ. Nếu ghi tăng giữa năm, số khấu hao của năm đầu phải cộng từ các tháng thực tế được trích. Các ví dụ dưới đây đều là dữ liệu giả định để luyện phép tính, không phải hồ sơ khách hàng.
Bảng khấu hao cần tối thiểu nguyên giá, thời gian trích, ngày ghi tăng và số đã khấu hao trước kỳ đang tính. Thiếu một dữ liệu, công thức có thể chạy nhưng kết quả vẫn sai.
Hồ sơ nên đặt cạnh bảng tính gồm hóa đơn mua tài sản, chứng từ chi phí liên quan và biên bản giao nhận, nghiệm thu. Nếu nhận bàn giao phần hành từ người khác, bạn cần thêm thẻ tài sản và bảng khấu hao kỳ trước.
Chẳng hạn, số tiền trên hóa đơn thiết bị là 350 triệu đồng nhưng còn chi phí lắp đặt. Nhập thẳng 350 triệu vào cột nguyên giá sẽ bỏ sót phần chi phí đủ điều kiện ghi nhận. Đừng bắt đầu bằng thao tác kéo công thức.
Tài sản đã sử dụng trước khi nhận bàn giao cần xác định được nguyên giá đang theo dõi và khấu hao lũy kế tại ngày đầu kỳ. Không lấy giá trị còn lại rồi coi như nguyên giá của một tài sản mới.
Mã tài sản cũng cần thống nhất giữa các file. Một thiết bị được đặt hai mã khác nhau có thể bị trích hai lần mà tổng từng dòng vẫn trông hợp lý. Hãy đối chiếu mã với tên thiết bị, bộ phận sử dụng và hồ sơ gốc trước khi tính.
Nguyên giá là căn cứ của phép tính đường thẳng ban đầu, không mặc nhiên bằng tổng tiền chuyển cho nhà cung cấp. Với tài sản mua sắm, cần xác định giá mua sau khoản giảm trừ và chi phí trực tiếp đủ điều kiện đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Giả sử doanh nghiệp mua thiết bị sản xuất linh kiện điện tử với giá 350 triệu đồng, được giảm giá 5 triệu đồng. Chi phí vận chuyển là 6 triệu đồng, lắp đặt và chạy thử là 9 triệu đồng.
Toàn bộ số tiền trong ví dụ chưa gồm thuế GTGT đầu vào. Giả định khoản thuế này đủ điều kiện khấu trừ, các chi phí đã được kiểm tra và đều đủ điều kiện tính vào nguyên giá.
Phép tính: 350 − 5 + 6 + 9 = 360 triệu đồng. Đây là nguyên giá dùng xuyên suốt ví dụ chính. Lấy riêng giá mua sau giảm trừ là 345 triệu đồng sẽ làm thiếu 15 triệu đồng trong căn cứ khấu hao.
Khoản chi sau khi tài sản đã sẵn sàng sử dụng cần được xem xét theo bản chất, không cộng tất cả vào nguyên giá. Thuế GTGT không được khấu trừ cũng cần xử lý theo trường hợp cụ thể. Trước khi chốt, nên lập một dòng giải thích cho từng khoản cộng, trừ và chỉ rõ chứng từ đi kèm.
Thời gian trích khấu hao phải được xác định từ loại tài sản và hồ sơ liên quan, thay vì chọn số năm để tạo ra mức chi phí mong muốn. Khung thời gian cần tra theo phụ lục và quy định áp dụng cho trường hợp đó.
Tên gọi chung như “máy sản xuất” chưa đủ để chọn thời gian. Cần đọc thông số kỹ thuật và mục đích sử dụng để xác định đúng nhóm. Thiết bị phục vụ sản xuất và thiết bị phục vụ quản lý có thể thuộc các nhóm khác nhau.
Trong ví dụ chính, giả định thiết bị sản xuất linh kiện điện tử được xác định thời gian trích phù hợp là 6 năm. Bài tập phía sau dùng một thiết bị thông tin phục vụ quản lý với thời gian 4 năm. Hai số này là giả thiết của đề, không phải mức chung cho mọi thiết bị.
Trường hợp tài sản mua lại đã qua sử dụng cần xác định thời gian theo quy định riêng và tình trạng thực tế. Không tự sao chép số năm của tài sản mới cùng tên. Nếu thay đổi thời gian đã xác định, phải có căn cứ và xử lý theo quy định.
Hãy lưu cả lý do chọn thời gian trong hồ sơ. Khi người khác hỏi vì sao bảng dùng 6 năm, bạn cần chỉ ra căn cứ phân loại, thay vì chỉ nói rằng file cũ đang để như vậy.
Thiết bị nguyên giá 360 triệu đồng, thời gian 6 năm có mức khấu hao 60 triệu đồng cho mỗi năm đủ kỳ. Bảng dưới giả định tài sản được ghi tăng từ đầu năm đầu tiên, không thay đổi nguyên giá hoặc thời gian trích.
Đơn vị trong bảng: triệu đồng. Khấu hao lũy kế là tổng số đã trích đến thời điểm kiểm tra; giá trị còn lại trên sổ bằng nguyên giá trừ khấu hao lũy kế.
| Cuối năm | Khấu hao năm | Lũy kế | Còn lại |
|---|---|---|---|
| 1 | 60 | 60 | 300 |
| 2 | 60 | 120 | 240 |
| 3 | 60 | 180 | 180 |
Cuối năm thứ hai, phép kiểm là 360 = 120 + 240. Đến cuối năm thứ ba, phép kiểm thành 360 = 180 + 180. Nguyên giá vẫn giữ nguyên trong giả thiết này, còn lũy kế tăng dần qua từng kỳ.
Giá trị còn lại trên sổ không phải giá bán dự kiến của thiết bị. Một tài sản còn 240 triệu đồng trên sổ có thể được thị trường định giá khác. Không dùng giá rao bán để sửa cột còn lại trong bảng khấu hao.
Chỉ cần ba cột này đã có thể phát hiện nhiều lỗi. Nếu lũy kế tăng mà số còn lại không giảm tương ứng, nên kiểm tra lại công thức trước khi chuyển sang tổng hợp chi phí.
Tháng ghi tăng giữa kỳ cần tính theo số ngày được trích, bao gồm ngày bắt đầu ghi tăng. Khoản 9 Điều 9 Thông tư 45/2013/TT-BTC quy định việc bắt đầu hoặc thôi trích gắn với ngày tài sản tăng, giảm.
Tiếp tục ví dụ nguyên giá 360 triệu đồng, mức tháng 5 triệu đồng. Giả sử hồ sơ xác định ngày ghi tăng là 13/4; tháng 4 có 30 ngày. Số ngày được trích trong tháng là 30 − 13 + 1 = 18 ngày.
Riêng tháng 4, số khấu hao = 5 × 18 / 30 = 3 triệu đồng. Từ tháng 5 đến hết tháng 12 có 8 tháng đủ, tương ứng 5 × 8 = 40 triệu đồng.
Tổng năm đầu bằng 3 + 40 = 43 triệu đồng. Giá trị còn lại cuối năm bằng 360 − 43 = 317 triệu đồng, với giả thiết không có thay đổi khác. Mức bình quân năm vẫn là 60 triệu đồng.
Lỗi thường gặp là lấy ngày hóa đơn làm ngày bắt đầu mà chưa đọc biên bản nghiệm thu, giao nhận. Một lỗi khác là tính 30 − 13 = 17 ngày, bỏ mất ngày đầu. Khi hồ sơ có nhiều mốc thời gian, hãy xác định ngày ghi tăng đúng trước rồi mới đưa vào công thức.
Nếu tài sản ghi giảm giữa tháng, số được trích của tháng đó tính đến trước ngày ghi giảm. Kỳ khấu hao cuối cũng phải kiểm tra phần giá trị chưa khấu hao để tránh trích vượt.
Xét một tình huống độc lập: tài sản có mức bình quân tháng 5 triệu đồng, ghi giảm ngày 11/9. Giả định tháng 9 có 30 ngày và tài sản còn đủ giá trị để trích. Số ngày tính khấu hao là từ ngày 1 đến hết ngày 10, tức 10 ngày.
Số khấu hao bằng 5 × 10 / 30 = 1,666666… triệu đồng. Nếu ghi sổ đến đơn vị đồng, làm tròn kết quả cuối cùng thành 1,666667 triệu đồng. Đừng làm tròn đơn giá ngày trước khi nhân.
Kỳ cuối do gần khấu hao hết cần kiểm tra số chưa phân bổ. Giả sử phần chưa khấu hao đầu tháng là 1,2 triệu đồng, trong khi công thức bình thường cho 5 triệu đồng. Phần trích không được vượt 1,2 triệu đồng; đồng thời phải kiểm lại lịch trích và căn cứ kết thúc.
Trích hết giá trị và ghi giảm tài sản là hai việc khác nhau. Một thiết bị đã khấu hao hết vẫn có thể tiếp tục được quản lý, sử dụng. Không tự xóa dòng tài sản chỉ vì cột giá trị còn lại đã về 0.
Muốn luyện các tình huống tăng, giảm tài sản bằng bộ chứng từ, bạn có thể Gọi 0904 860 899 để trao đổi nhu cầu học thực hành.
Bài tập dưới đây kết hợp xác định nguyên giá, tính tháng đầu và đối chiếu số dư. Bạn nên tự tính trước, rồi so từng bước với lời giải.
Doanh nghiệp mua mới một thiết bị thông tin phục vụ quản lý với giá 94 triệu đồng. Chi phí vận chuyển và lắp đặt đủ điều kiện ghi nhận là 2 triệu đồng. Các số tiền chưa gồm thuế GTGT đủ điều kiện khấu trừ.
Hồ sơ xác định ngày ghi tăng là 16/6; tháng 6 có 30 ngày. Giả định thời gian trích phù hợp là 4 năm, phương pháp đường thẳng, không có điều chỉnh khác. Hãy tính nguyên giá, mức bình quân tháng và khấu hao năm đầu đến hết tháng 12.
Nguyên giá bằng 94 + 2 = 96 triệu đồng. Mức năm bằng 96 / 4 = 24 triệu đồng; mức tháng bằng 24 / 12 = 2 triệu đồng.
Khoảng từ ngày 16 đến hết ngày 30 có 15 ngày. Khấu hao tháng 6 bằng 2 × 15 / 30 = 1 triệu đồng. Sáu tháng đủ từ tháng 7 đến tháng 12 phát sinh 2 × 6 = 12 triệu đồng.
Đáp án năm đầu là 13 triệu đồng, giá trị còn lại cuối năm là 83 triệu đồng. Phép kiểm: 96 = 13 + 83. Nếu ra 14 triệu đồng, bạn có thể đã tính tháng 6 như tháng đủ; nếu ra 12 triệu đồng, có thể đã bỏ tháng đầu.
Excel nên tách ô dữ liệu đầu vào khỏi ô công thức, đồng thời có bước chặn số trích vượt phần còn lại. Bảng mẫu dưới tính tháng tăng của tài sản 360 triệu đồng, bắt đầu ngày 13/4 trong tháng có 30 ngày.
Toàn bộ ô số tiền dùng đơn vị đồng; nhập số thuần, sau đó định dạng hiển thị. Không gõ thêm chữ “đồng” vào ô dữ liệu. Bảng chỉ mô tả các ô trên một trang tính, chưa phải lịch khấu hao tự động cho nhiều kỳ.
| Ô | Nội dung | Giá trị hoặc công thức |
|---|---|---|
| B2 | Nguyên giá | 360000000 |
| B3 | Số năm trích | 6 |
| B4 | Mức tháng | =B2/B3/12 |
| B5 | Số ngày của tháng | 30 |
| B6 | Ngày bắt đầu | 13 |
| B7 | Số ngày được trích | =B5-B6+1 |
| B8 | Chưa khấu hao đầu kỳ | 360000000 |
| B9 | Khấu hao kỳ này | =MIN(B8,MAX(0,ROUND(B4*B7/B5,0))) |
Kết quả B9 là 3 triệu đồng. Hàm ROUND làm tròn ở bước cuối; MIN giới hạn theo phần chưa khấu hao; MAX chặn giá trị âm. Tuy nhiên, công thức không thay cho việc kiểm ngày hợp lệ và điều kiện được trích.
Tháng đủ cần đặt số ngày được trích bằng số ngày của tháng. Nếu là tháng giảm, nhập số ngày trước ngày ghi giảm, không dùng công thức B7 dành cho tháng tăng. Một tài sản tăng và giảm cùng tháng phải xác định khoảng ngày riêng.
Máy dùng dấu chấm phẩy để phân cách đối số thì thay dấu phẩy trong công thức. Khi mở rộng bảng, nên khóa ô tham số, kiểm dữ liệu ngày và đối chiếu tổng theo mã tài sản. Đừng kéo nguyên mẫu tháng đầu cho tất cả các tháng.
Đường thẳng dựa trên thời gian, số dư giảm dần dựa vào giá trị còn lại, còn phương pháp sản lượng gắn với số sản phẩm thực tế. Chọn phương pháp cần xét điều kiện áp dụng của tài sản, không chỉ so số chi phí tạo ra.
Ở giai đoạn tính theo số dư giảm dần, mức năm bằng giá trị còn lại đầu năm nhân tỷ lệ khấu hao nhanh. Tỷ lệ này được xác định từ thời gian trích và hệ số điều chỉnh tương ứng theo Phụ lục 2.
Một ví dụ khác giả định thiết bị mới đủ điều kiện, nguyên giá 150 triệu đồng, thời gian 5 năm, hệ số 2. Dùng tỷ lệ dạng số thập phân: 1 / 5 × 2 = 0,4. Năm đầu tính 150 × 0,4 = 60 triệu đồng; năm tiếp theo tính trên 90 triệu đồng còn lại.
Những năm cuối cần so mức giảm dần với giá trị còn lại chia số năm còn lại để xác định điểm chuyển theo quy định. Không nhân 0,4 liên tục đến hết thời gian mà bỏ bước điều chỉnh này.
Với tài sản đáp ứng điều kiện phương pháp sản lượng, mức cho một sản phẩm bằng nguyên giá chia tổng sản lượng theo công suất thiết kế. Mức kỳ bằng mức một sản phẩm nhân sản lượng thực tế kỳ đó.
Giả sử nguyên giá 180 triệu đồng, tổng sản lượng thiết kế 900 nghìn sản phẩm, kỳ này làm 30 nghìn sản phẩm. Khấu hao kỳ bằng 180 × 30 / 900 = 6 triệu đồng. Phải kiểm điều kiện về tài sản, cách xác định sản lượng và công suất sử dụng trước khi chọn phương pháp.
Sai lệch thường nằm ở dữ liệu đầu vào, cách chọn kỳ hoặc công thức bị kéo nhầm. Nên kiểm từng tài sản trước khi đối chiếu tổng toàn doanh nghiệp.
Lấy ví dụ thiết bị 360 triệu đồng, sau một năm đủ kỳ còn 300 triệu đồng. Nếu năm sau lấy 300 / 6 để tính đường thẳng, mức năm giảm xuống 50 triệu đồng. Cách này đã dùng giá trị còn lại thay nguyên giá trong khi giả thiết không thay đổi.
Một file khác có thể sai vì lẫn đơn vị. Nguyên giá nhập theo triệu đồng nhưng cột khấu hao lại dùng đơn vị đồng sẽ tạo chênh lệch rất lớn. Ghi đơn vị ngay đầu bảng và giữ thống nhất trong toàn bộ vùng tính.
Để rà soát trước khi khóa sổ, bạn có thể đi theo thứ tự:
Với danh mục có tài sản giảm, lũy kế cuối kỳ không chỉ bằng đầu kỳ cộng số trích mới. Phải loại phần lũy kế đi kèm tài sản đã ghi giảm. Giữ riêng danh sách tăng, giảm sẽ giúp tìm ra chênh lệch nhanh hơn.
Trước khi chốt, cần kiểm cả điều kiện dừng trích, thay đổi hồ sơ và cách sử dụng số liệu cho mục đích thuế. Một phép chia đúng chưa đủ để kết luận toàn bộ phần hành đã đúng.
Không tiếp tục trích khấu hao cho phần giá trị đã khấu hao hết. Tài sản vẫn cần được theo dõi, kiểm kê và quản lý đến khi có nghiệp vụ xử lý phù hợp. Giá trị còn lại bằng 0 không có nghĩa thiết bị không còn tồn tại.
Khi có thay đổi hợp lệ, cần xác định lại mức trích theo giá trị còn lại và thời gian xác định lại hoặc còn lại theo quy định. Không tự xóa lịch sử rồi chia toàn bộ nguyên giá mới từ đầu; hồ sơ điều chỉnh phải giải thích được số chuyển tiếp.
Chưa đủ. Điều kiện hồ sơ, mục đích sử dụng và quy định thuế áp dụng cần được kiểm riêng. Bài này hướng dẫn phép tính; với trường hợp đặc thù, cần đối chiếu văn bản hiện hành và tình trạng thực tế của doanh nghiệp.
Không tự đưa khoản dự kiến này vào công thức đường thẳng đang minh họa theo Phụ lục 2. Nếu đề bài sử dụng một cơ sở kế toán khác, cần đọc rõ giả thiết và công thức của cơ sở đó trước khi tính.
Muốn nhớ cách tính, bạn nên tự đi từ hồ sơ đến bảng khấu hao rồi đối chiếu kết quả, thay vì chỉ học thuộc công thức. Bắt đầu bằng tài sản tăng đầu tháng, sau đó thêm tình huống tăng giữa tháng và ghi giảm.
Ở mỗi bài tập, hãy giữ một phần kiểm tra riêng: nguyên giá hình thành từ đâu, số ngày tính thế nào, tổng đã trích còn cách nguyên giá bao nhiêu. Khi giải thích được những dòng này, bạn sẽ dễ phát hiện lỗi trong một file có sẵn.
Nhu cầu học tiếp cũng tùy chỗ đang thiếu. Người mới nên nắm nguyên lý và cách đọc chứng từ trước; người đã làm kế toán có thể tập trung luyện bảng Excel rồi đối chiếu kết quả trên phần mềm.
Tại Khóa Học Kế Toán Thực Hành Thực Tế, các chủ đề đào tạo gồm nền tảng kế toán, nghiệp vụ tổng hợp, kế toán thuế, Excel và MISA. Bạn có thể học trực tiếp tại 193 Nguyễn Xí, phường Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh hoặc online.
Kết quả mỗi người khác nhau, tùy nền tảng và thời gian luyện tập. Hãy mang theo câu hỏi cụ thể, chẳng hạn vì sao tháng đầu lệch số hoặc vì sao lũy kế không khớp, để trao đổi đúng phần bạn cần luyện.
Nếu cần chọn hướng học phù hợp, Chat Zalo và chia sẻ phần hành bạn đang làm, mức độ sử dụng Excel cùng thời gian học thuận tiện.
Thực hành theo một tình huống cụ thể, tự kiểm tra kết quả và ghi lại những điểm cần làm rõ.
Gợi ý thực hành


Đọc chứng từ, giải thích cách xử lý và đối chiếu số liệu là các bước cần đi cùng nhau. Bạn có thể trao đổi nền tảng và mục tiêu để chọn lộ trình thực hành phù hợp.